Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh, thước đo của cải cách không chỉ là số lượng thủ tục được cắt giảm mà còn là mức độ thuận lợi thực chất mà doanh nghiệp và người dân cảm nhận được.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Diễn đàn đối thoại về thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp và môi trường tại Hà Nội sáng 18/6, nhằm tăng cường trao đổi giữa cơ quan quản lý với hiệp hội ngành hàng, cộng đồng doanh nghiệp và các địa phương.
Diễn đàn do Vụ Pháp chế phối hợp với Báo Nông nghiệp và Môi trường tổ chức dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp. Chương trình có sự tham dự của đại diện các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, một số Sở Nông nghiệp và Môi trường, các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và tổ chức liên quan.
Sự kiện diễn ra trong bối cảnh Chính phủ đang đẩy mạnh cải cách thể chế, cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh nhằm tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong giai đoạn tới.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thời gian qua ngành đã triển khai nhiều giải pháp mạnh về phân quyền, phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Kết quả, tổng thời gian giải quyết thủ tục được cắt giảm 8.987 ngày, tương đương giảm 53,39%. Chi phí tuân thủ tiết kiệm khoảng 5.310 tỷ đồng, giảm 54,73% so với trước đây. Số thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền cấp Bộ cũng giảm từ 267 xuống còn 148 thủ tục, chỉ còn chiếm 26,67% tổng số thủ tục thuộc phạm vi quản lý.
Bên cạnh đó, Bộ đã thực hiện phân quyền, phân cấp 58 thủ tục hành chính thuộc 9 lĩnh vực; bãi bỏ 108 thủ tục thuộc 16 lĩnh vực và đơn giản hóa 88 thủ tục thuộc 10 lĩnh vực. Đối với điều kiện kinh doanh, 13 trong số 40 ngành nghề kinh doanh có điều kiện đã được bãi bỏ, đồng thời thu hẹp phạm vi của 3 ngành nghề khác, đạt tỷ lệ cắt giảm 36,25%, vượt yêu cầu tối thiểu 30% theo chỉ đạo của Trung ương.
Những thay đổi này trải rộng trên nhiều lĩnh vực như trồng trọt, bảo vệ thực vật, chăn nuôi, thú y, thủy sản, môi trường, đất đai, lâm nghiệp, thủy lợi, khoa học công nghệ, biến đổi khí hậu, biển và hải đảo.
Theo ban tổ chức, một trong những nội dung trọng tâm của diễn đàn là phổ biến các quy định mới về phân quyền, phân cấp và cải cách thủ tục hành chính để doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng nắm bắt và triển khai hiệu quả.
Đặc biệt, chương trình sẽ dành nhiều thời gian cho hoạt động đối thoại trực tiếp, nơi các doanh nghiệp có thể phản ánh những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh.
Những kiến nghị của hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp tại diễn đàn sẽ được tổng hợp đầy đủ, nhất là những bất cập xuất phát từ quy định pháp luật, để báo cáo lãnh đạo Bộ chỉ đạo xử lý kịp thời.
Thông qua diễn đàn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường kỳ vọng tiếp tục thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính theo hướng thực chất, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, đồng thời tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý, địa phương, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp nhằm xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, minh bạch và thuận lợi hơn cho phát triển kinh tế - xã hội.
11h30
Cải cách phải được đo bằng sự thuận lợi của doanh nghiệp
Phát biểu kết thúc Diễn đàn, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp khẳng định, Bộ Nông nghiệp và Môi trường luôn cầu thị lắng nghe ý kiến từ cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng. Theo đó, những kiến nghị, phản ánh tại Diễn đàn không chỉ giúp tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trước mắt mà còn là nguồn thông tin quan trọng để cơ quan quản lý tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách trong thời gian tới.
Sau nhiều giờ trao đổi, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhận xét, các ý kiến tại Diễn đàn cho thấy vẫn còn khoảng cách nhất định giữa quy định chính sách và thực tiễn triển khai. Điều này đòi hỏi cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp phải duy trì cơ chế trao đổi thường xuyên hơn để kịp thời nhận diện, tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, thước đo của cải cách không nằm ở việc cắt giảm được bao nhiêu phần trăm thủ tục hành chính hay điều kiện kinh doanh, mà quan trọng hơn là mức độ thuận lợi thực chất mà người dân và doanh nghiệp cảm nhận được trong quá trình thực hiện.
Đối với các kiến nghị được nêu tại Diễn đàn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tổng hợp đầy đủ và giao các đơn vị liên quan trả lời bằng văn bản. Việc phản hồi phải đi thẳng vào vấn đề, làm rõ nguyên nhân, hướng xử lý và trách nhiệm thực hiện, tránh tình trạng trả lời chung chung hoặc chỉ viện dẫn quy định pháp luật.
Từ những ý kiến của doanh nghiệp, Bộ sẽ rà soát lại toàn bộ quy trình tiếp nhận, xử lý và phản hồi kiến nghị. Đồng thời, các đơn vị chuyên môn được yêu cầu tiếp tục đánh giá, rà soát các quy định còn bất cập để mạnh dạn đề xuất sửa đổi hoặc bãi bỏ. Những thủ tục, giấy phép hay điều kiện kinh doanh đã được doanh nghiệp phản ánh nhiều năm nhưng vẫn gây khó khăn cần được xem xét một cách nghiêm túc, trên tinh thần giữ lại những quy định thực sự cần thiết và mạnh dạn loại bỏ những nội dung không còn phù hợp với thực tiễn.
Thứ trưởng cũng cho biết, Bộ sẽ tiếp tục thúc đẩy chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ quản lý bằng giấy phép sang quản lý bằng tiêu chuẩn, quy chuẩn. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi phải bảo đảm thực chất, không để xảy ra tình trạng bỏ một thủ tục nhưng lại phát sinh thêm các yêu cầu, tiêu chuẩn mới làm tăng gánh nặng tuân thủ cho doanh nghiệp.
Một nguyên tắc xuyên suốt khác là bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật. Theo đó, các quy định của Bộ phải hài hòa với quy định của các bộ, ngành khác; giữa các lĩnh vực trong nội bộ Bộ cũng cần có cách tiếp cận thống nhất; đồng thời hạn chế tối đa tình trạng cùng một nội dung nhưng được áp dụng khác nhau giữa Trung ương và địa phương.
Kết thúc Diễn đàn, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp khẳng định, Bộ sẽ tiếp tục duy trì các kênh đối thoại thường xuyên với doanh nghiệp và hiệp hội, không chỉ thông qua các hội nghị định kỳ mà cả trong quá trình xử lý công việc hằng ngày.
“Không nên đợi đến khi tổ chức diễn đàn mới trao đổi. Mọi ý kiến, phản ánh của doanh nghiệp cần được tiếp nhận và xử lý kịp thời để không bỏ lỡ cơ hội đầu tư, kinh doanh. Điều quan trọng không chỉ là đạt được tốc độ tăng trưởng cao mà còn là chất lượng tăng trưởng và cách thức chúng ta cùng đồng hành để tạo ra tăng trưởng đó”, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh.
11h20
Thủ tục kéo dài ảnh hưởng tiến độ các chương trình phát triển nông nghiệp
Từ góc độ doanh nghiệp, bà Bùi Đặng Duyên Mai, Giám đốc đối ngoại và phát triển bền vững Coca-Cola Việt Nam, bày tỏ sự vui mừng khi diễn đàn được tổ chức với sự hỗ trợ của Báo Nông nghiệp và Môi trường, thu hút đông đảo đại diện doanh nghiệp và hiệp hội tham gia, đóng góp ý kiến sôi nổi trong suốt buổi sáng.
Theo bà Mai, các phần trả lời đều rất thẳng thắn, sát thực tế, nhận được sự đồng tình cao từ cộng đồng doanh nghiệp.
Tuy nhiên, do thời gian có hạn, nhiều câu hỏi chưa được giải đáp đầy đủ. Vì vậy, bà đề xuất các hiệp hội và doanh nghiệp tiếp tục gửi kiến nghị tới Vụ Pháp chế để được tổng hợp, chuyển đến đúng đơn vị chức năng xử lý. Đồng thời, các ý kiến cần bám sát chủ đề đối thoại để nâng cao hiệu quả, tránh dàn trải sang những nội dung không liên quan.
Chia sẻ cụ thể hơn, đại diện Coca-Cola Việt Nam cho biết doanh nghiệp hiện gặp vướng mắc trong việc giải ngân các nguồn tài trợ quốc tế cho các chương trình phát triển nông nghiệp. Dù quy mô không lớn, nhưng thủ tục còn phức tạp, phải qua nhiều bước và liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau, khiến tiến độ triển khai bị kéo dài.
Đơn cử, với một chương trình trị giá khoảng 2 triệu USD trong 3 năm nhằm hỗ trợ nâng cao thu nhập cho nông dân tại Bạc Liêu và Sóc Trăng, thời gian giải ngân giữa các địa phương có sự chênh lệch lớn: tại Bạc Liêu mất khoảng 6 tháng, trong khi tại Sóc Trăng kéo dài tới gần 1 năm. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ chung của dự án, thậm chí có nguy cơ làm gián đoạn các gói tài trợ tiếp theo.
Tương tự, trong một dự án hỗ trợ chuyển đổi mô hình sản xuất tại Đồng Tháp và An Giang - từ trồng lúa sang mô hình trồng sen, nuôi cá trong mùa nước nổi - dù mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn từ 1,5-2 lần, nhưng doanh nghiệp cũng mất nhiều tháng để hoàn tất thủ tục giải ngân. Thực tế có trường hợp quyết định phê duyệt chương trình chỉ được ban hành trước thời điểm triển khai vài ngày, khiến các bên liên quan phải gấp rút chuẩn bị.
Từ những khó khăn trên, bà Mai kiến nghị các ộ, ngành, đặc biệt là Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tăng cường phối hợp để đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian giải ngân các nguồn tài trợ quốc tế. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp triển khai hiệu quả các chương trình hỗ trợ mà còn góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững.
11h15
Kiến nghị sớm có hướng dẫn chi tiết về chính sách
Để những cải cách thủ tục hành chính đi vào thực tiễn hiệu quả hơn, CropLife Việt Nam đề nghị cơ quan quản lý sớm ban hành các hướng dẫn chi tiết trong các lĩnh vực gồm giống cây trồng, thuốc bảo vệ thực vật và phân bón.
Với giống cây trồng, hiệp hội kiến nghị làm rõ cơ chế tự công bố lưu hành giống, đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu công khai về các giống đã được đăng ký và lưu hành trên thị trường. Theo đại diện CropLife Việt Nam, công khai thông tin sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng tra cứu trước khi đặt tên giống mới, hạn chế nguy cơ trùng lặp hoặc phát sinh tranh chấp trong quá trình đăng ký.
Trong lĩnh vực thuốc bảo vệ thực vật và phân bón, CropLife mong được hướng dẫn cụ thể hơn về cơ chế giảm kiểm tra Nhà nước đối với hàng hóa nhập khẩu liên quan tới chất lượng sản phẩm.
Một trong những nội dung được quan tâm là việc giảm kiểm tra có đồng nghĩa với miễn thực hiện chứng nhận hợp quy hay không, cũng như các điều kiện, hồ sơ và quy trình để doanh nghiệp được hưởng cơ chế ưu tiên này.
Riêng đối với thuốc bảo vệ thực vật sinh học, CropLife Việt Nam cho rằng cần có cơ chế quản lý phù hợp với đặc thù của dòng sản phẩm này. Đại diện cho biết việc xếp chung thuốc bảo vệ thực vật sinh học với các nhóm sản phẩm khác trong cùng mã hàng hóa HS có thể dẫn tới những yêu cầu kiểm tra chưa thực sự phù hợp.
Do đó, cơ quan quản lý được đề nghị nghiên cứu các phương án đánh giá rủi ro và kiểm soát chất lượng riêng, đồng thời tính đến năng lực phân tích hiện có của các phòng thử nghiệm, khảo, kiểm nghiệm trong nước để tránh gây ách tắc trong quá trình nhập khẩu và lưu thông sản phẩm.
10h55
Kiến nghị bỏ ngô nếp, ngô ngọt, ngô rau ra khỏi nhóm cây trồng chính
Ông Trần Xuân Định, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Thương mại giống cây trồng Việt Nam, kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét sửa đổi quy định về danh mục cây trồng chính, trong đó đưa ngô nếp, ngô ngọt và ngô rau ra khỏi nhóm cây trồng chính hiện đang được quản lý như các giống ngô hạt.
Theo ông Định, hiện nay nhóm ngô thực phẩm gồm ngô nếp, ngô ngọt và ngô rau có đặc điểm sinh trưởng ngắn ngày, chỉ khoảng 65-70 ngày và có tính chất thị trường khác với ngô hạt phục vụ chăn nuôi. Tuy nhiên, các giống này vẫn đang phải thực hiện quy trình khảo nghiệm và công nhận lưu hành tương tự các giống cây trồng chính khác.
Ông cho rằng quy định này đang tạo ra khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh giống cây trồng. Để một giống mới được công nhận lưu hành, doanh nghiệp phải thực hiện khảo nghiệm trong thời gian dài, có trường hợp mất từ 2-3 năm hoặc lâu hơn.
Trong khi đó, công nghệ chọn tạo giống và nhu cầu thị trường thay đổi rất nhanh. Nhiều doanh nghiệp phản ánh đến khi giống được cấp phép lưu hành thì thị hiếu tiêu dùng, yêu cầu của thị trường hoặc các giống mới ưu việt hơn đã xuất hiện, khiến doanh nghiệp tiếp tục phải đầu tư cho một chu kỳ khảo nghiệm mới.
Theo đại diện Hiệp hội Thương mại giống cây trồng Việt Nam, vướng mắc này đang ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp sản xuất giống, doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu ngô thực phẩm. Đặc biệt, các doanh nghiệp chế biến ngô ngọt, ngô rau phục vụ xuất khẩu gặp khó khăn trong việc nhanh chóng đưa các giống mới vào sản xuất để đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Vì vậy, ông Định đề nghị Bộ xem xét sửa đổi thông tư quy định danh mục cây trồng chính theo hướng tách ngô nếp, ngô ngọt và ngô rau ra khỏi nhóm ngô thuộc diện quản lý như cây trồng chính. Theo đó, doanh nghiệp có thể thực hiện cơ chế tự công bố lưu hành và tự chịu trách nhiệm về chất lượng giống theo quy định, thay vì phải trải qua quy trình khảo nghiệm và công nhận lưu hành kéo dài như hiện nay.
10h40
Đề xuất chỉ áp dụng kiểm dịch đối với sữa tươi nguyên liệu
Ông Tống Xuân Chinh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Sữa Việt Nam, nguyên Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, cho biết ngành sữa hiện chịu sự quản lý của ba bộ. Trong đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý sữa tươi nguyên liệu; Bộ Công Thương quản lý hoạt động chế biến; còn Bộ Y tế quản lý các sản phẩm sữa có bổ sung vitamin, khoáng chất và các thành phần dinh dưỡng đặc thù.
Tại Diễn đàn, đại diện các doanh nghiệp sữa kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét điều chỉnh quy định về kiểm dịch sữa và sản phẩm sữa tại Thông tư số 01/2026/TT-BNNMT quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật trên cạn.
Theo ông Chinh, hiện nay tất cả các loại sữa và sản phẩm sữa đều thuộc diện phải kiểm dịch. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa thực sự phù hợp với nguyên tắc quản lý dựa trên đánh giá rủi ro, đồng thời làm gia tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Phó Chủ tịch Hiệp hội Sữa Việt Nam cho biết, sản phẩm sữa có thể chia thành bốn nhóm chính gồm sữa tươi nguyên liệu, sữa lỏng đã qua chế biến, sữa bột và các sản phẩm sữa chế biến khác. Trong đó, các sản phẩm như sữa thanh trùng, tiệt trùng và sữa bột đều đã được xử lý nhiệt, đóng gói kín trên dây chuyền công nghệ hiện đại nên nguy cơ lây lan dịch bệnh rất thấp.
Vì vậy, Hiệp hội đề xuất chỉ áp dụng kiểm dịch đối với sữa tươi nguyên liệu, còn các sản phẩm đã qua chế biến cần được quản lý theo hướng đánh giá rủi ro, phù hợp với thông lệ quốc tế và khuyến nghị của các tổ chức chuyên môn.
Bên cạnh đó, ông Chinh cũng phản ánh những vướng mắc phát sinh sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương. Theo phản ánh của doanh nghiệp, một số giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm đã được cơ quan có thẩm quyền cấp trước đây đang gặp khó khăn trong việc được công nhận khi địa phương thực hiện sáp nhập hoặc thay đổi đơn vị hành chính. Ông cho rằng các giấy tờ đã được cấp hợp pháp trước khi thay đổi địa giới hành chính cần tiếp tục được công nhận và kế thừa giá trị pháp lý, tránh phát sinh thêm thủ tục cho doanh nghiệp.
Từ thực tế trên, Hiệp hội Sữa Việt Nam đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm có hướng dẫn thống nhất để các địa phương triển khai đồng bộ, hạn chế tình trạng áp dụng khác nhau giữa các địa phương. Đồng thời, cần có lộ trình hỗ trợ nâng cao năng lực cán bộ, cơ sở vật chất và điều kiện kỹ thuật tại địa phương nhằm bảo đảm việc phân cấp, phân quyền được thực hiện hiệu quả, thông suốt và không làm tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
10h35
Không nên chuyển những vướng mắc từ Trung ương xuống cơ sở
TS Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam cho rằng, các thủ tục hành chính trong lĩnh vực chăn nuôi hiện nay cần được rà soát để đảm bảo tính thống nhất, tránh tình trạng mỗi đơn vị thực hiện một cách khác nhau, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Việc phân cấp cho địa phương là cần thiết nhưng không nên chuyển những vướng mắc, khó khăn từ Trung ương xuống cơ sở.
Trên cơ sở đó, ông Dương đề xuất một số kiến nghị cụ thể như: bãi bỏ quy định đăng ký kiểm dịch trước vì kiểm dịch là cần thiết nhưng nên thực hiện trực tiếp tại cửa khẩu theo quy định, không cần thêm thủ tục xin phép; bãi bỏ các giấy chứng nhận hành nghề không cần thiết đối với những người đã được đào tạo chuyên môn như kỹ sư chăn nuôi, bác sĩ thú y; rà soát lại quy định chỉ định phòng thí nghiệm, chỉ nên áp dụng với các lĩnh vực có rủi ro cao, còn lại cần mở rộng công nhận các đơn vị đủ tiêu chuẩn để tránh ách tắc và độc quyền.
Chủ tịch Hiệp Hội chăn nuôi Việt Namm cũng nhấn mạnh cần áp dụng đúng bản chất của quản lý rủi ro, theo đó cơ quan quản lý nên tập trung vào những yếu tố có nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn, môi trường và sức khỏe con người, thay vì can thiệp sâu vào chất lượng sản phẩm - vốn là trách nhiệm của doanh nghiệp và do thị trường quyết định. Đồng thời, cần thống nhất đầu mối quản lý về môi trường để tránh chồng chéo giữa các đơn vị chuyên ngành.
Cuối cùng, ông Dương đánh giá cao việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức các cuộc đối thoại và đề xuất Bộ có văn bản trả lời cụ thể các kiến nghị của doanh nghiệp, coi đây là cách làm thiết thực, giúp các ý kiến được tiếp thu và xử lý, góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng cũng như thực thi chính sách.
10h25
Doanh nghiệp đề xuất tham chiếu tiêu chuẩn quốc tế đối với thuốc bảo vệ thực vật sinh học
Ông Nguyễn Văn Sơn, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam, cho rằng các quy định mới theo Nghị quyết 66.19 đã tạo ra những thay đổi rất lớn trong công tác quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, do nhiều nội dung mới được phân cấp về địa phương, cộng đồng doanh nghiệp vẫn đang trong quá trình nghiên cứu và cần thêm các hoạt động tập huấn, hướng dẫn để thống nhất cách hiểu và triển khai.
Theo ông Sơn, một số thủ tục chuyên môn được chuyển xuống cấp tỉnh hiện còn nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện. Do đó, ông đề nghị Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Vụ Pháp chế cùng các đơn vị liên quan tổ chức các cuộc trao đổi chuyên sâu với doanh nghiệp để làm rõ quy trình thực hiện các thủ tục như đánh giá cơ sở sản xuất, cơ sở khảo nghiệm, phòng thử nghiệm và các nội dung liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu.
Bên cạnh đó, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam cho rằng có những vấn đề cần sớm được tháo gỡ do tác động trực tiếp tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Một trong số đó là các quy định liên quan đến truy xuất nguồn gốc và nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thuốc bảo vệ thực vật.
Theo ông, một sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật thường bao gồm hoạt chất, phụ gia và nhiều thành phần khác nhau. Tuy nhiên, theo cơ chế hiện nay, nhiều nguyên liệu nhập khẩu để gia công, sản xuất trong nước vẫn phải thực hiện thủ tục hợp quy, sau đó thành phẩm hoàn chỉnh lại tiếp tục phải thực hiện hợp quy thêm một lần nữa.
Ông Sơn nhận định, cách quản lý này làm phát sinh chi phí, kéo dài thời gian xử lý hồ sơ và tạo thêm gánh nặng cho doanh nghiệp. Do đó, cơ quan quản lý nên nghiên cứu theo hướng quản lý thành phẩm lưu thông trên thị trường, xác định rõ trách nhiệm của đơn vị sản xuất đối với sản phẩm cuối cùng thay vì thực hiện nhiều vòng kiểm soát đối với từng nguyên liệu cấu thành. Đây là vấn đề liên quan tới nhiều cơ quan như Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính, cơ quan hải quan và các đơn vị liên quan khác nên cần có sự phối hợp để xử lý đồng bộ.
Một nội dung khác được ông Sơn đặc biệt quan tâm là việc phát triển thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Ông Sơn cho rằng, chủ trương của Đảng và Nhà nước hiện nay là khuyến khích nghiên cứu, sản xuất và sử dụng các sản phẩm sinh học nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào thuốc hóa học. Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn liên quan đến tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và thủ tục hợp quy.
Nhiều loại thuốc vi sinh, thuốc thảo mộc có mức độ độc hại rất thấp, thuộc nhóm rủi ro thấp, nhưng trong quá trình quản lý vẫn đang phải áp dụng nhiều yêu cầu tương tự các sản phẩm có mức độ rủi ro cao hơn, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam thông tin. Ông Sơn nhìn nhận, cách tiếp cận này chưa thực sự phù hợp với đặc tính của sản phẩm sinh học.
Đại diện Hội Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam đề xuất, trong trường hợp Việt Nam chưa xây dựng được đầy đủ hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, cơ quan quản lý có thể xem xét công nhận hoặc tham chiếu các tiêu chuẩn, quy chuẩn của nước ngoài để tạo điều kiện cho các sản phẩm sinh học phát triển.
Đồng thời, ông kiến nghị cần có cơ chế quản lý dựa trên mức độ rủi ro, trong đó thuốc bảo vệ thực vật sinh học được xếp vào nhóm rủi ro thấp hơn so với thuốc bảo vệ thực vật hóa học nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, sản xuất và đưa các sản phẩm an toàn hơn ra thị trường.
10h10
Đề xuất tiếp tục cắt giảm thủ tục liên quan đến giống vật nuôi
TS Nguyễn Văn Trọng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam, nguyên Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi kiến nghị tiếp tục cắt giảm các thủ tục hành chính liên quan đến giống vật nuôi. Theo đó, đối với các giống gia súc, gia cầm thông thường đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới, nên xem xét bãi bỏ quy định khảo nghiệm trước khi lưu hành.
Theo ông Trọng, quá trình khảo nghiệm hiện nay kéo dài nhiều năm, trong khi tốc độ cải tiến di truyền của vật nuôi diễn ra rất nhanh, khiến nhiều giống mới mất cơ hội tiếp cận thị trường.Bên cạnh đó, đại biểu đề xuất đơn giản hóa thủ tục công nhận giống vật nuôi mới, đặc biệt với các giống được chọn tạo tại địa phương hoặc hình thành từ quá trình lai tạo trên nền các giống đã có. Thay vì cơ chế công nhận hành chính, cơ quan quản lý có thể chuyển sang hậu kiểm, cho phép tổ chức, cá nhân tự công bố giống sau khi đáp ứng các điều kiện kỹ thuật cần thiết.
Một nội dung khác được TS Nguyễn Văn Trọng đề nghị, là khung pháp lý đối với công nghệ chỉnh sửa gen và sinh vật biến đổi gen đang trở thành điểm nghẽn. Nhiều đề tài nghiên cứu cấp bộ và cấp nhà nước đã ứng dụng các công nghệ chỉnh sửa gen trong chọn tạo giống vật nuôi, song chưa có hướng dẫn cụ thể về đánh giá, quản lý và thương mại hóa sản phẩm. Điều này khiến nhiều kết quả nghiên cứu chưa thể đưa vào thực tiễn sản xuất.
Đối với ngành sữa, nguyên Phó Cục trưởng kiến nghị xây dựng quy chuẩn quốc gia về sữa tươi nguyên liệu. Hiện việc thu mua sữa vẫn phụ thuộc nhiều vào các tiêu chuẩn riêng của doanh nghiệp chế biến, dẫn đến tình trạng giá thu mua có thể giảm mạnh khi một số chỉ tiêu kỹ thuật không đạt yêu cầu.
10h00
Nhiều diện tích đất nông nghiệp bỏ hoang, cần giải pháp hỗ trợ người sản xuất
Theo ông Trần Mạnh Báo, Chủ tịch Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam, Chủ tịch Tập đoàn ThaiBinh Seed, quá trình sắp xếp lại hệ thống quản lý nhà nước và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã tạo thuận lợi cho công tác quản lý, song cũng phát sinh một số vướng mắc mới cần sớm được tháo gỡ.
Theo phản ánh của cộng đồng doanh nghiệp, các khó khăn hiện nay chủ yếu liên quan đến thủ tục công nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh giống cây trồng; việc xác định cây trồng chính; cùng các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Bên cạnh các vấn đề về thủ tục hành chính, ông Trần Mạnh Báo bày tỏ sự quan tâm trước thực trạng nhiều diện tích đất nông nghiệp bị bỏ hoang trong vụ hè thu năm nay, đặc biệt tại khu vực từ miền Trung trở ra miền Bắc.
Theo nhận định của Chủ tịch Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam, tình trạng này phản ánh những khó khăn mà người sản xuất đang phải đối mặt khi chi phí đầu vào liên tục gia tăng trong khi giá nhiều loại nông sản ở mức thấp. Từ đó gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất và tâm lý đầu tư của người dân đối với hoạt động nông nghiệp.
Ông Báo cho rằng, việc duy trì động lực sản xuất cho nông dân có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển ổn định, bền vững, và mục tiêu tăng trưởng 2 con số của ngành nông nghiệp trong thời gian tới.
Từ thực tế đó, Chủ tịch Tập đoàn ThaiBinh Seed đề nghị Chính phủ nghiên cứu các chính sách hỗ trợ kịp thời cho nông dân, tương tự cách làm của nhiều quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật Bản và các nước châu Âu. Theo ông, việc hỗ trợ không chỉ góp phần ổn định đời sống người dân mà còn có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm an ninh lương thực trước những biến động khó lường của tình hình thế giới.
Tại Diễn đàn, ông Báo cũng nhấn mạnh vai trò của các hiệp hội ngành hàng trong nền kinh tế thị trường. Theo ông, nếu doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp sản xuất, kinh doanh thì các hiệp hội chính là cầu nối giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý nhà nước, thực hiện chức năng phản ánh tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị và tham gia phản biện chính sách.
Từ đó, Chủ tịch Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam đề xuất Bộ Nông nghiệp và Môi trường duy trì các cuộc gặp gỡ, đối thoại chuyên đề định kỳ với các hiệp hội và doanh nghiệp. Đây không chỉ là kênh để doanh nghiệp phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn mà còn giúp cơ quan quản lý nắm bắt sát hơn nhu cầu của thị trường, hoàn thiện chính sách phù hợp với thực tế sản xuất.
Ông Trần Mạnh Báo cho rằng, việc tăng cường đối thoại thường xuyên sẽ góp phần củng cố sự gắn kết giữa cơ quan quản lý, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp, qua đó tạo thêm động lực thúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp trong giai đoạn tới.
9h45
Đề xuất đơn giản hóa nhiều quy định về thức ăn chăn nuôi và thú y
Ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, đánh giá cao việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức diễn đàn đối thoại, coi đây là cơ hội để các hiệp hội và doanh nghiệp phản ánh trực tiếp những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh.
Theo ông, thời gian qua Bộ đã có những cải cách lớn về thủ tục hành chính, trong đó có phân cấp cho địa phương và rà soát nhiều quy định liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sản xuất.
Tuy nhiên, ông Sơn cho rằng quá trình thực thi ở địa phương hiện vẫn còn một số ách tắc. Vấn đề đầu tiên là thiếu thống nhất trong cách hiểu và tiêu chí xử lý hồ sơ, nhất là với nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Cùng một sản phẩm, có địa phương giải quyết nhanh, nhưng khi chuyển sang địa phương khác lại bị yêu cầu bổ sung thêm giấy tờ, kéo dài thời gian. Theo ông Sơn, nguyên nhân một phần do năng lực chuyên môn và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin giữa các địa phương chưa đồng đều.
Vướng mắc thứ hai là tình trạng quá tải, thiếu nhân lực chuyên môn ở cấp địa phương. Nhiều cán bộ chịu áp lực trách nhiệm pháp lý nên có tâm lý xử lý chậm, làm chặt, không dám giải quyết nhanh để thông quan hàng hóa. Điều này khiến doanh nghiệp trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y, thức ăn chăn nuôi bỏ lỡ cơ hội xuất khẩu, nhập khẩu hoặc kinh doanh.
Bên cạnh đó, hạ tầng và cơ sở vật chất ở một số địa phương còn hạn chế, khiến việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ mất nhiều thời gian. Với các doanh nghiệp lớn có nhiều nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi ở nhiều tỉnh, việc phải làm việc với nhiều đầu mối địa phương khác nhau cũng gây lúng túng và thiếu thống nhất.
Ở cấp Trung ương, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam ghi nhận một số sửa đổi trong quản lý giống vật nuôi là phù hợp, đặc biệt là hướng miễn, giảm khảo nghiệm đối với những giống đã có chứng nhận, được nhập khẩu và lưu hành thương mại theo thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, với lĩnh vực thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y, ông cho rằng vẫn còn nhiều điểm cần tiếp tục rà soát.
Hiệp hội đề nghị bỏ kiểm tra chất lượng nguyên liệu đầu vào đối với doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi, bởi doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm trước khi xuất xưởng và chịu sự giám sát thường xuyên của cơ quan quản lý.
Ông Sơn cũng phản ánh thời gian xử lý hồ sơ đăng ký trực tuyến còn kéo dài. Có hồ sơ liên quan đến sản phẩm thuốc thú y mất 6 tháng đến một năm, thậm chí có trường hợp kéo dài nhiều năm. Ngoài ra, quy định về nhãn thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y cũng cần được xem xét lại, bởi nhiều giấy phép chỉ thể hiện nội dung tóm tắt, trong khi yêu cầu nhãn phải ghi phù hợp với giấy phép khiến doanh nghiệp khó thực hiện đầy đủ trên bao bì.
Với thủ tục kiểm tra giảm, ông Sơn đề nghị cần triển khai qua cơ chế một cửa, thay vì vẫn phải nộp hồ sơ giấy. Hiệp hội cũng kiến nghị bỏ quy định về thời hạn sử dụng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi theo hướng để doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm trong quản lý chất lượng. Về danh mục nguyên liệu thức ăn được phép sử dụng, ông đề xuất thay đổi cách tiếp cận, chỉ ban hành danh mục cấm sử dụng, thay vì quản lý theo danh mục được phép.
Ngoài ra, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam cho rằng còn tình trạng trùng lặp, chồng chéo trong đánh giá điều kiện sản xuất thức ăn bổ sung và sản phẩm xử lý môi trường. Với khảo nghiệm phụ gia, Hiệp hội đề nghị bỏ hoặc đơn giản hóa thủ tục đối với những phụ gia như enzyme, probiotic đã được EU hoặc các thị trường có tiêu chuẩn cao công nhận và lưu hành thương mại.
Trong lĩnh vực thuốc thú y và vaccine, ông Sơn đề nghị xem xét bỏ thủ tục gia hạn giấy chứng nhận lưu hành, chuyển sang kiểm soát theo điều kiện lưu hành và chất lượng sản phẩm. Hiệp hội cũng kiến nghị bỏ yêu cầu theo dõi kế hoạch đóng gói trong hồ sơ đăng ký để giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.
Với các sản phẩm thảo dược thay thế kháng sinh, ông Sơn cho rằng cần có cơ chế công nhận kết quả phân tích từ nước xuất khẩu hoặc cho phép gửi mẫu đến các phòng thử nghiệm đủ năng lực, do nhiều chỉ tiêu hiện các phòng thử nghiệm trong nước chưa phân tích được.
9h35
Đang xây dựng nghị định mới với nhiều chính sách hỗ trợ nuôi biển
Ông Dương Văn Cường, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư có ý kiến phản hồi đối với các kiến nghị của Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam tại diễn đàn. Trước hết, cơ quan quản lý khẳng định phát triển nuôi biển là một trong những chính sách rất quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời giảm áp lực khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên.
Trong những năm gần đây, lĩnh vực này đã có bước phát triển mạnh mẽ, và Cục Thủy sản và Kiểm ngư luôn đồng hành với hiệp hội và doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.
Liên quan đến các nhóm kiến nghị mà Hiệp hội nêu, đại diện Cục Thủy sản và Kiểm ngư lần lượt trao đổi, làm rõ như sau:
Thứ nhất, về thủ tục hành chính, trong đợt cải cách gần đây, một số vướng mắc quan trọng đã được tháo gỡ. Cụ thể, hai thủ tục trước đây do hai cơ quan khác nhau thực hiện (giao khu vực biển và cấp phép nuôi biển) nay đã được tích hợp, giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn.
Hiện nay, cơ quan chuyên môn chỉ tham gia góp ý về phương án, phương tiện nuôi, còn thủ tục cấp phép do cơ quan môi trường thực hiện. Những vấn đề còn tồn tại liên quan đến giao khu vực biển sẽ tiếp tục được nghiên cứu, xử lý.
Thứ hai, về phát triển công nghệ cao trong nuôi biển, Cục Thủy sản ghi nhận kiến nghị của Hiệp hội. Năm 2026 sẽ tiến hành sơ kết 5 năm thực hiện Đề án phát triển nuôi biển theo Quyết định của Thủ tướng ban hành năm 2021. Trong quá trình này, cơ quan quản lý sẽ phối hợp với địa phương và hiệp hội để đánh giá toàn diện, từ đó đề xuất các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, trong đó có nội dung thúc đẩy ứng dụng công nghệ cao.
Thứ ba, về chính sách bảo hiểm và hỗ trợ, hiện Bộ đang xây dựng Nghị định mới thay thế Nghị định 67 về chính sách phát triển thủy sản. Dự thảo nghị định sẽ được trình Chính phủ trong thời gian sớm nhất, với nhiều nội dung hỗ trợ thiết thực như: bảo hiểm tài sản và đối tượng nuôi, hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng nuôi biển, sản xuất giống, chuyển đổi vật liệu nuôi thân thiện môi trường, cũng như hỗ trợ đào tạo, tập huấn cho người lao động.
Thứ tư, liên quan đến đăng kiểm, theo quy định hiện hành, tàu phục vụ nuôi biển vẫn phải đăng ký và đăng kiểm. Tuy nhiên, hoạt động này đang được xã hội hóa, không còn do cơ quan Nhà nước trực tiếp thực hiện hoàn toàn. Trong thời gian tới, các cơ sở đăng kiểm đủ điều kiện sẽ đảm nhiệm việc này, tạo thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp.
Thứ năm, về hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, hiện đã có 13 tiêu chuẩn cấp Trung ương và 2 tiêu chuẩn cấp địa phương được ban hành. Trong thời gian tới, sẽ tiếp tục xây dựng thêm các quy chuẩn về nuôi biển, tiêu chuẩn lồng bè, điều kiện môi trường và công trình nuôi nhằm đảm bảo an toàn và phát triển bền vững.
Cục Thủy sản và Kiểm ngư khẳng định sẽ tiếp tục lắng nghe, phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội Nuôi biển và cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình xây dựng chính sách và triển khai thực hiện, nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy ngành nuôi biển phát triển hiệu quả và bền vững.
9h27
Giữ mật độ chăn nuôi nhằm phát triển bền vững
Ông Phạm Kim Đăng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y cho rằng việc quy định mật độ chăn nuôi không nhằm hạn chế sự phát triển của ngành mà để bảo đảm phát triển bền vững trong điều kiện tài nguyên đất đai và môi trường có giới hạn.
Việt Nam hiện nằm trong nhóm quốc gia có quy mô đàn vật nuôi lớn trên thế giới, trong khi diện tích đất và khả năng hấp thụ chất thải không tăng tương ứng. Vì vậy, việc xác định mật độ chăn nuôi phù hợp là cơ sở để cân bằng giữa phát triển sản xuất với bảo vệ môi trường.
Theo ông Đăng, các quy định về mật độ được xây dựng trên cơ sở đánh giá sức chịu tải của môi trường, khả năng xử lý và tái sử dụng chất thải chăn nuôi, đồng thời bảo đảm an toàn sinh học và kiểm soát dịch bệnh. Đây cũng là cách tiếp cận mà nhiều quốc gia đang áp dụng nhằm tránh tình trạng phát triển nóng, vượt quá khả năng đáp ứng của hạ tầng và môi trường địa phương.
Ông nhấn mạnh định hướng phát triển chăn nuôi trong giai đoạn tới phải gắn chặt với mô hình nông nghiệp tuần hoàn. Chất thải chăn nuôi cần được xem là nguồn tài nguyên đầu vào cho sản xuất trồng trọt, năng lượng sinh học và phân bón hữu cơ, thay vì chỉ là gánh nặng môi trường. Việc quy hoạch vùng chăn nuôi và xác định mật độ phù hợp sẽ tạo điều kiện hình thành các chuỗi tuần hoàn giữa chăn nuôi, trồng trọt và xử lý môi trường, qua đó nâng cao giá trị gia tăng và giảm phát thải.
Ông Đăng cho biết cơ quan quản lý sẽ tiếp tục rà soát, điều chỉnh các quy định theo hướng linh hoạt hơn, căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội, tiềm năng phát triển và chiến lược của từng vùng. Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp bổ sung, rằng việc ban hành chính sách phải tuyệt đối dựa trên nguyên tắc không tác động, không can thiệp vào thị trường. Những ý kiến của hiệp hội, doanh nghiệp tại diễn đàn sáng 18/6 sẽ là cơ sở để cơ quan quản lý có thêm những hướng dẫn rõ hơn, chi tiết hơn khi đưa vào thực tế vận hành.
9h20
Quản lý bảo vệ môi trường bằng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, cùng với việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, một trong những trọng tâm cải cách sắp tới của Bộ Nông nghiệp và Môi trường là tiếp tục cắt giảm thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Thứ trưởng cho biết, dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi dự kiến trình Quốc hội vào tháng 7 tới sẽ có nhiều thay đổi căn bản trong phương thức quản lý. Theo đó, cơ quan quản lý sẽ từng bước chuyển từ tiền kiểm, cấp phép sang quản lý bằng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Nhà nước sẽ ban hành các bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường để doanh nghiệp thực hiện. Nếu đáp ứng đúng tiêu chuẩn thì được hoạt động, trường hợp vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định.
Liên quan đến Quỹ Bảo vệ môi trường, Thứ trưởng cho biết đây cũng là nội dung đang được nghiên cứu điều chỉnh. Theo hướng sửa đổi, có thể chuyển từ cơ chế nộp quỹ sang công cụ thuế môi trường.
“Việc doanh nghiệp nộp quỹ rồi cho rằng đã hoàn thành trách nhiệm môi trường là cách tiếp cận chưa phù hợp. Trách nhiệm bảo vệ môi trường phải được thực hiện xuyên suốt trong quá trình sản xuất, kinh doanh, không phải chỉ dừng lại ở việc hoàn thành nghĩa vụ tài chính”, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẳng định.
Thứ trưởng nhấn mạnh, trong lĩnh vực môi trường, vấn đề hiện nay không chỉ là phân cấp, phân quyền mà còn là phải đơn giản hóa mạnh mẽ bộ thủ tục hành chính. Dù đã giảm đáng kể số lượng thủ tục thuộc thẩm quyền cấp Bộ nhưng hồ sơ, giấy tờ trong nhiều thủ tục vẫn còn quá phức tạp, gây tốn kém thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.
“Điều chúng tôi hướng tới không chỉ là chuyển thủ tục từ Bộ xuống địa phương mà quan trọng hơn là phải làm cho hồ sơ đơn giản hơn, giảm tối đa giấy tờ, giảm gánh nặng tuân thủ cho doanh nghiệp”, Thứ trưởng nói.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, quan điểm của Bộ không phải là phân cấp để giảm trách nhiệm của cơ quan Trung ương mà là phân cấp để phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy có những lĩnh vực sau khi phân cấp lại phát sinh khó khăn do địa phương thiếu nhân lực hoặc năng lực thực hiện, dẫn đến việc xử lý còn chậm hơn so với khi do Bộ thực hiện.
Vì vậy, cùng với phân cấp, cần tiếp tục rà soát, đơn giản hóa quy trình, hồ sơ và phương thức thực hiện thủ tục hành chính. Các quy định phải được thiết kế theo hướng dễ hiểu, dễ thực hiện, giảm tối đa thời gian và chi phí tuân thủ. Doanh nghiệp cần có khả năng kê khai trực tuyến, nhanh chóng biết được nghĩa vụ tài chính, thủ tục cần thực hiện và hoàn thành trong thời gian ngắn thay vì mất nhiều ngày hoặc nhiều tuần như hiện nay.
9h15
Tiếp tục rà soát các quy định về ĐTM, giấy phép môi trường và EPR
Trao đổi về các kiến nghị liên quan đến lĩnh vực môi trường, ông Nguyễn Hồng Quang, Phó Cục trưởng Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết nhiều ý kiến của doanh nghiệp tập trung vào nhóm vấn đề về cơ sở pháp lý và quá trình thực thi các quy định hiện hành.
Đối với kiến nghị liên quan đến quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tái sử dụng nước thải cho mục đích trồng trọt, ông Quang cho biết đây là nội dung đã được luật giao xây dựng. Bộ hiện đã giao đơn vị chuyên môn làm đầu mối xây dựng quy chuẩn. Trước phản ánh của doanh nghiệp về việc quy chuẩn chậm được ban hành, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục ghi nhận để rà soát trong quá trình hoàn thiện.
Liên quan đến yêu cầu chứng chỉ bảo vệ môi trường đối với một số cơ sở sản xuất và kinh doanh xăng dầu, ông Quang cho biết trước đây từng có Thông tư 43 hướng dẫn đào tạo, cấp chứng chỉ. Tuy nhiên, từ khi Luật Bảo vệ môi trường 2020 có hiệu lực, nội dung này không còn được quy định trong các văn bản pháp luật về môi trường. Do hoạt động kinh doanh xăng dầu thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan để rà soát, làm rõ việc có tiếp tục yêu cầu loại chứng chỉ này hay không.
Đối với phản ánh về việc kê khai và tính phí khí thải còn phức tạp, ông Quang cho biết các nội dung liên quan đến đối tượng áp dụng, thông số và công thức tính đã được hướng dẫn trong các nghị định hiện hành. Tuy nhiên, cơ quan quản lý mong muốn tiếp tục nhận được các trường hợp cụ thể từ doanh nghiệp để xác định rõ khó khăn nằm ở đâu, trên cơ sở đó rà soát và tổng hợp kiến nghị với cơ quan chủ trì là Bộ Tài chính.
Về các vấn đề liên quan đến đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và giấy phép môi trường, ông Quang cho biết theo quy định hiện hành, khi dự án được cấp giấy phép môi trường thì quyết định phê duyệt ĐTM trước đó không còn hiệu lực.
Đối với các dự án có thay đổi trong quá trình triển khai, nếu thay đổi về công nghệ, công suất hoặc địa điểm làm gia tăng tác động đến môi trường thì phải thực hiện đánh giá tác động môi trường theo quy định. Trường hợp thay đổi dưới các ngưỡng quy định, doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm báo cáo và tự chịu trách nhiệm về nội dung điều chỉnh.
Theo ông Quang, các quy định này đã được nêu trong Luật Bảo vệ môi trường và Nghị định 08, tuy nhiên Bộ sẽ tiếp tục ghi nhận phản ánh để có hướng dẫn rõ hơn trong quá trình thực hiện.
Ông Quang cũng cho biết sau các đợt rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính theo các nghị quyết mới của Chính phủ, số lượng đối tượng phải thực hiện thủ tục môi trường đã giảm đáng kể. Nhiều cơ sở trước đây thuộc diện phải xin giấy phép môi trường nay chỉ còn thực hiện đăng ký môi trường theo quy định mới.
Liên quan đến trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), ông Quang cho biết Chính phủ đã ban hành Nghị định 44 năm 2026 để hướng dẫn thực hiện. Cơ quan quản lý ghi nhận các kiến nghị liên quan đến đối tượng áp dụng, chi phí thực hiện và các nội dung gắn với kinh tế tuần hoàn để tiếp tục rà soát trong thời gian tới.
Đối với hệ thống tiếp nhận thông tin phục vụ công tác quản lý môi trường, ông Quang thừa nhận thời gian qua còn xảy ra một số trục trặc kỹ thuật và cho biết Bộ đã giao đơn vị chuyên môn rà soát, nâng cấp hệ thống. Về hoạt động quan trắc môi trường và truyền dữ liệu, các quy định về đối tượng thực hiện đã được nêu trong luật và nghị định hướng dẫn. Những phản ánh liên quan đến thời điểm truyền dữ liệu, quá trình vận hành thử nghiệm và các yêu cầu cụ thể trong giấy phép môi trường sẽ được tiếp tục nghiên cứu, tổng hợp.
Theo ông Quang, các kiến nghị của doanh nghiệp và hiệp hội sẽ được Bộ tổng hợp trong thời gian tới để phân tích sâu hơn, đồng thời phối hợp với các bộ, ngành liên quan xử lý những nội dung vượt thẩm quyền trước khi báo cáo Chính phủ xem xét.
9h10
Nuôi biển công nghiệp cần cơ chế thông thoáng hơn để bứt phá
Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, Phó Tổng thư ký Hiệp hội nuôi biển Việt Nam kiến nghị tháo gỡ một số điểm nghẽn để phát triển bền vững nuôi biển công nghiệp Việt Nam tại Diễn đàn. Theo đó, Hiệp hội cho rằng, việc phát triển nuôi biển công nghiệp tại Việt Nam đang gặp nhiều “điểm nghẽn”, cần cơ chế thông thoáng hơn.
Trước hết là thiếu quy hoạch không gian biển chi tiết, khiến các địa phương khó giao khu vực biển ổn định, lâu dài cho doanh nghiệp đầu tư. Bên cạnh đó, thủ tục giao khu vực biển còn phức tạp, chi phí cao, đặc biệt sau khi có quy định mới liên quan đến chấp thuận chủ trương đầu tư, làm kéo dài thời gian và tăng gánh nặng cho người dân, doanh nghiệp.
Một hạn chế lớn khác là thiếu hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho nuôi biển công nghiệp, nhất là về an toàn cơ sở, môi trường và vật liệu. Đồng thời, chưa có cơ quan đăng kiểm cho cơ sở và phương tiện nuôi biển, dẫn đến khó khăn trong quản lý và triển khai bảo hiểm.
Hiệp hội cũng chỉ ra việc chưa có cơ chế bảo hiểm cho hoạt động nuôi biển, khiến rủi ro cao và doanh nghiệp khó tiếp cận bảo hiểm. Ngoài ra, chính sách hỗ trợ nuôi biển còn thiếu, đặc biệt với nuôi biển công nghiệp; cùng với đó là thiếu chương trình đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành.
Từ các bất cập trên, Hiệp hội kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành sớm hoàn thiện thể chế, đơn giản hóa thủ tục, ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật, phát triển chương trình nuôi biển công nghiệp, đồng thời xây dựng chính sách hỗ trợ, bảo hiểm và đào tạo nhân lực nhằm thúc đẩy phát triển bền vững ngành nuôi biển.
9h05
EuroCham kiến nghị đơn giản hóa thủ tục môi trường, tạo thuận lợi cho đầu tư xanh
Đại diện doanh nghiệp thành viên EuroCham, bà Lê Thị Hồng Nhi - Phó Tổng Giám đốc Truyền thông, Đối ngoại và Phát triển bền vững, Unilever Việt Nam cho biết, các doanh nghiệp thành viên đánh giá cao nỗ lực cải cách của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong thời gian qua, đặc biệt trong lĩnh vực môi trường và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn khi triển khai các dự án đầu tư do một số thủ tục liên quan đến môi trường còn kéo dài và chồng chéo.
Theo EuroCham, một trong những vấn đề được doanh nghiệp quan tâm là quy trình cấp giấy phép môi trường hiện vẫn đòi hỏi nhiều thủ tục và thời gian xử lý tương đối dài. Trong khi đó, đối với nhiều dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án công nghệ cao, việc chậm hoàn tất các thủ tục môi trường có thể ảnh hưởng đến tiến độ triển khai và kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp.
Đại diện EuroCham cho rằng cần nghiên cứu theo hướng đơn giản hóa quy trình, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và áp dụng cách tiếp cận quản lý rủi ro. Với những doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt hoặc áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến, thân thiện với môi trường, cơ quan quản lý có thể xem xét cơ chế thủ tục thuận lợi hơn nhằm khuyến khích đầu tư xanh và đổi mới công nghệ.
EuroCham cũng đề cập tới sự phát triển nhanh của các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số và các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo. Theo đó, khung pháp lý cần bảo đảm vừa quản lý được rủi ro, vừa tạo không gian cho doanh nghiệp thử nghiệm, phát triển sản phẩm và thu hút đầu tư vào các ngành công nghệ tương lai.
Liên quan đến các quy định môi trường, EuroCham cho rằng hiện vẫn tồn tại những nội dung có sự giao thoa giữa báo cáo đánh giá tác động môi trường và giấy phép môi trường, làm gia tăng khối lượng hồ sơ và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Do đó, cần tiếp tục rà soát để tránh trùng lặp yêu cầu quản lý, đồng thời bảo đảm các thủ tục được thực hiện theo hướng minh bạch, dễ dự đoán và thống nhất giữa các địa phương.
Đối với cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), EuroCham khẳng định cộng đồng doanh nghiệp ủng hộ mục tiêu thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, việc triển khai cần bảo đảm tính khả thi, minh bạch và ổn định trong dài hạn.
Doanh nghiệp mong muốn các quy định liên quan đến EPR được xây dựng theo lộ trình phù hợp, tránh phát sinh chi phí đột ngột hoặc tạo thêm gánh nặng hành chính, qua đó giúp doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch đầu tư và sản xuất kinh doanh.
9h00
7 nhóm vấn đề kiến nghị từ cộng đồng doanh nghiệp
Tại diễn đàn, đại diện Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đánh giá cao những kết quả mà Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đạt được trong thời gian qua, đặc biệt là việc đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, sửa đổi các quy định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh và triển khai các nghị quyết của Chính phủ nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Theo VCCI, nhiều thay đổi đã góp phần giảm chi phí tuân thủ, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục và cải thiện tính minh bạch của môi trường kinh doanh.
Tuy nhiên, đại diện VCCI cũng cho rằng vẫn còn không gian đáng kể để tiếp tục cải cách theo hướng thực chất hơn, bảo đảm các quy định mới đi vào cuộc sống và tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đầu năm 2026, VCCI đã tiến hành khảo sát, tổng hợp ý kiến từ cộng đồng doanh nghiệp trên cả nước và ghi nhận gần 800 kiến nghị liên quan đến thể chế, thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh. Trong đó, nhiều kiến nghị thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Từ các phản ánh của doanh nghiệp, VCCI tổng hợp thành 7 nhóm vấn đề lớn cần tiếp tục được nghiên cứu, tháo gỡ.
Nhóm thứ nhất liên quan đến việc thiếu cơ sở pháp lý hoặc hướng dẫn thực hiện đối với một số quy định đã được luật hóa nhưng chưa có văn bản kỹ thuật đi kèm, khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong quá trình triển khai.
Nhóm thứ hai là các quy định chưa rõ ràng hoặc chưa thống nhất giữa các văn bản, dẫn tới cách hiểu và áp dụng khác nhau giữa các địa phương, làm gia tăng rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp.
Nhóm thứ ba phản ánh tình trạng một số quy định pháp luật đặt ra yêu cầu bắt buộc nhưng lại chưa có cơ chế, công cụ hoặc văn bản hướng dẫn để doanh nghiệp thực hiện trên thực tế.
Trong khi đó, nhóm thứ tư tập trung vào các chi phí tuân thủ mà doanh nghiệp cho rằng còn khá lớn, đặc biệt đối với những quy định liên quan đến bảo vệ môi trường, ký quỹ hoặc các yêu cầu kỹ thuật phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
Nhóm thứ năm đề cập đến một số thủ tục hành chính cần tiếp tục được rà soát, đơn giản hóa theo hướng quản lý rủi ro và giảm các khâu kiểm tra không cần thiết.
Nhóm thứ sáu liên quan đến các điều kiện kinh doanh chưa được quy định cụ thể, minh bạch, dẫn đến khó khăn trong quá trình thực thi và làm giảm khả năng dự báo của môi trường pháp lý.
Nhóm vấn đề cuối cùng được doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là các điều kiện kinh doanh có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, đầu tư và mở rộng quy mô. Theo VCCI, các mục tiêu quản lý nhà nước về môi trường, an toàn sinh học hay phòng chống dịch bệnh là cần thiết, tuy nhiên cần cân nhắc áp dụng các công cụ quản lý dựa trên tiêu chuẩn kỹ thuật, kết quả đầu ra và mức độ rủi ro thay vì các biện pháp hành chính cứng nhắc.
Đại diện VCCI cho rằng việc tiếp tục rà soát, tháo gỡ các nhóm vướng mắc nêu trên sẽ góp phần nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ, đồng thời tạo môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định và thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
8h50
Phiên đối thoại của Diễn đàn đối thoại về thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp và môi trường năm 2026 do Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, Vụ trưởng Vụ Pháp chế Phan Tuấn Hùng và Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Ngọc Thạch đồng chủ trì.
Phiên làm việc dành phần lớn thời gian để các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp trao đổi trực tiếp với cơ quan quản lý nhà nước về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư, sản xuất và kinh doanh. Các đại biểu cũng được phổ biến, hướng dẫn thực hiện các quy định mới về phân quyền, phân cấp, cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Theo ông Phan Tuấn Hùng, thời gian qua Bộ đã tập trung cao độ cho công tác hoàn thiện thể chế và cải cách thủ tục hành chính, hoàn thành các nhiệm vụ được Chính phủ giao trong thời gian ngắn, qua đó được ghi nhận và biểu dương về những nỗ lực cải cách, tạo nền tảng tiếp tục tháo gỡ rào cản cho người dân và doanh nghiệp.
8h40
Bãi bỏ 108, đơn giản hóa 88, phân cấp, phân quyền 58 thủ tục hành chính
Tại Diễn đàn, bà Trần Thị Nga, chuyên viên cao cấp Vụ Pháp chế (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết việc triển khai Nghị quyết số 17/2026/NQ-CP, Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP và Thông tư số 22/2026/TT-BNNMT đã mang lại nhiều kết quả tích cực trong cải cách thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh và phân quyền, phân cấp quản lý nhà nước.
Theo đó, so với năm 2024, Bộ đã cắt giảm gần 9.000 ngày giải quyết thủ tục hành chính, tương đương 53,39%; đồng thời giảm 5.310 tỷ đồng chi phí tuân thủ, tương đương 54,73%. Số lượng thủ tục hành chính giảm từ 650 xuống còn 555 thủ tục. Trong giai đoạn 2025-2026, Bộ đã bãi bỏ 108 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 88 thủ tục và thực hiện phân cấp, phân quyền đối với 58 thủ tục.
Công tác phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh, giúp số thủ tục thuộc thẩm quyền cấp Bộ giảm từ 267 xuống còn 148 thủ tục, chỉ chiếm 26,67% tổng số thủ tục hành chính. Việc phân cấp tập trung ở các lĩnh vực như chăn nuôi và thú y, địa chất và khoáng sản, biến đổi khí hậu, thủy sản và kiểm ngư, môi trường, biển và hải đảo.
Đối với điều kiện đầu tư kinh doanh, Bộ đã bãi bỏ 13 trong tổng số 40 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và thu hẹp phạm vi đối với 3 ngành nghề khác, đạt tỷ lệ cắt giảm 36,25%, vượt yêu cầu tối thiểu 30% của Chính phủ. Nhờ đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trở thành một trong ba bộ hoàn thành chỉ tiêu và được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ biểu dương.
Theo báo cáo, các lĩnh vực có số lượng thủ tục được cải cách nhiều nhất gồm chăn nuôi và thú y, trồng trọt và bảo vệ thực vật, thủy lợi, địa chất và khoáng sản, biến đổi khí hậu và biển, hải đảo. So với phương án đề xuất ban đầu, Bộ đã thực hiện phân cấp 58/61 thủ tục dự kiến, đồng thời bãi bỏ 86 thủ tục, cao hơn mức đề xuất là 83 thủ tục.
Việc cắt giảm, đơn giản hóa và phân quyền thủ tục hành chính được thực hiện theo nguyên tắc tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp; thúc đẩy đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; bảo đảm công khai, minh bạch và thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc địa giới hành chính. Quá trình cải cách cũng gắn với tăng cường hậu kiểm, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.
Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục hoàn thiện hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, hướng dẫn địa phương triển khai các nhiệm vụ được phân cấp, đồng thời hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trước ngày 1/3/2027 nhằm bảo đảm việc thực thi các quy định mới được thống nhất, hiệu quả trên phạm vi cả nước.
8h30
Cải cách không chỉ dừng ở những con số
Phát biểu khai mạc Diễn đàn, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, cải cách thủ tục hành chính và cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh là yêu cầu quan trọng nhằm khơi thông nguồn lực, giảm chi phí xã hội, tạo môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.
Theo Thứ trưởng, đối với ngành nông nghiệp và môi trường, nhiệm vụ này càng có ý nghĩa đặc biệt khi phạm vi quản lý rộng, liên quan trực tiếp đến nhiều lĩnh vực thiết yếu như đất đai, tài nguyên, môi trường, thủy sản, lâm nghiệp, chăn nuôi, thú y, trồng trọt và bảo vệ thực vật.
Thời gian qua, thực hiện chỉ đạo của Trung ương và Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tập trung rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương. Bộ là một trong ba Bộ được Chính phủ biểu dương vì đạt và vượt các chỉ tiêu được giao, đồng thời được giao xây dựng các Nghị quyết riêng về cắt giảm, phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Về kết quả cụ thể, Bộ đã cắt giảm được 8.987 ngày giải quyết thủ tục hành chính, tương ứng giảm 53,39%; tiết kiệm khoảng 5.310 tỷ đồng chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp, tương ứng giảm 54,73%. Số thủ tục hành chính cấp Bộ giảm từ 267 xuống còn 148. Đồng thời, Bộ đã thực hiện phân cấp 58 thủ tục, bãi bỏ 108 thủ tục và đơn giản hóa 88 thủ tục thuộc nhiều lĩnh vực.
Đối với điều kiện kinh doanh, Bộ đã bãi bỏ 13 trong tổng số 40 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và thu hẹp 3 ngành nghề, đạt tỷ lệ cắt giảm 36,25%, vượt yêu cầu tối thiểu mà Trung ương đề ra.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh, những kết quả trên cho thấy hướng đi đúng đắn với sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo Bộ và sự vào cuộc trách nhiệm của các đơn vị. Tuy nhiên, cải cách không dừng lại ở các con số mà cần tiếp tục đi vào thực chất, được đo bằng mức độ thuận lợi, hài lòng của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả quản lý nhà nước.
Trong thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, khả thi; đồng thời tổ chức thực hiện các nhiệm vụ với yêu cầu rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn và rõ kết quả.
Tại Diễn đàn, Thứ trưởng đề nghị các đại biểu, đặc biệt là các hiệp hội và doanh nghiệp, tập trung phản ánh những vướng mắc cụ thể trong thực tiễn như thủ tục không cần thiết, kéo dài, hồ sơ chưa hợp lý, quy định chồng chéo hoặc cần phân cấp mạnh hơn. Các đơn vị thuộc Bộ được yêu cầu tham gia với tinh thần trách nhiệm, không chỉ ghi nhận mà còn phải trao đổi, giải thích, tiếp thu và đề xuất hướng xử lý cụ thể, tránh trả lời chung chung hoặc để kiến nghị bị kéo dài.
Thứ trưởng khẳng định, tinh thần của Bộ là cải cách phải thực chất, quản lý phải minh bạch, hiệu quả, phân cấp gắn với kiểm tra, giám sát, đồng thời tạo thuận lợi tối đa cho người dân và doanh nghiệp. Ông bày tỏ tin tưởng Diễn đàn sẽ đóng góp nhiều ý kiến thiết thực, góp phần hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao chất lượng phục vụ của ngành, hướng tới mục tiêu tăng trưởng của đất nước.