Quảng Ninh đang từng bước định hình mô hình kinh tế biển xanh gắn với nuôi biển công nghệ cao, bảo tồn hệ sinh thái và phát triển du lịch bền vững.
Cần cơ chế khuyến khích đầu tư
Cùng với phát triển du lịch biển đảo, Quảng Ninh đang đẩy mạnh chuyển dịch từ khai thác tự nhiên sang nuôi biển công nghệ cao nhằm tái tạo nguồn lợi thủy sản và phát triển kinh tế biển bền vững. Tại hội thảo "Phát triển du lịch biển xanh - du lịch hạnh phúc, hướng đi tương lai cho hợp tác xã” tổ chức tại đặc khu Cô Tô mới đây, nhiều chuyên gia cho rằng đây không chỉ là hướng đi tất yếu của ngành thủy sản mà còn là lời giải cho bài toán sinh kế lâu dài của cộng đồng ngư dân vùng biển đảo.
Nhiều năm qua, nguồn lợi thủy sản ven bờ liên tục suy giảm do khai thác quá mức và tác động từ biến đổi khí hậu. Không ít hệ sinh thái biển như rạn san hô, thảm cỏ biển hay rừng ngập mặn đang chịu áp lực lớn từ hoạt động đánh bắt và phát triển hạ tầng ven biển. Trong bối cảnh đó, việc chuyển sang nuôi biển theo hướng công nghiệp, sinh thái và ứng dụng công nghệ được xem là giải pháp quan trọng nhằm giảm áp lực khai thác tự nhiên.
Anh Nguyễn Bá Ngọc, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Mực nhảy Biển Đông cho biết, Công ty đã dành hơn 5 năm theo đuổi thủ tục giao mặt nước biển để triển khai dự án nuôi biển ngoài khơi. Hiện doanh nghiệp đã được giao hơn 209ha mặt biển tại Cô Tô để triển khai mô hình nuôi biển bằng vật liệu HDPE thân thiện với môi trường với tổng vốn đầu tư khoảng 120 tỷ đồng.
Theo anh Ngọc, các lồng nuôi được đặt ở khu vực cách bờ khoảng 6 hải lý nhằm tận dụng dòng chảy tự nhiên, giảm ô nhiễm cục bộ và phù hợp với điều kiện biển động. Đây được xem là hướng đi khác biệt so với mô hình nuôi ven bờ truyền thống vốn dễ gây ô nhiễm môi trường và chịu nhiều rủi ro khi thời tiết cực đoan. Tuy nhiên, quá trình triển khai dự án cũng cho thấy nhiều khó khăn của ngành nuôi biển hiện nay.
“Đầu tư hàng trăm tỷ đồng nhưng doanh nghiệp chưa vay được một đồng vốn ngân hàng nào”, anh Ngọc chia sẻ. Theo anh, rào cản lớn nhất hiện nay là thiếu cơ chế tín dụng và bảo hiểm dành riêng cho nuôi biển công nghệ cao. Trong khi đó, lĩnh vực này đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian thu hồi dài và chịu rủi ro cao từ thiên tai, dịch bệnh cũng như biến động thị trường.
Ngoài vấn đề vốn, ngành nuôi biển còn gặp khó khăn về con giống, khoa học kỹ thuật và nhân lực chất lượng cao. “Muốn phát triển bền vững cần hình thành sự liên kết chặt chẽ giữa nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân. Đồng thời, địa phương cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, xây dựng cơ chế về thuế mặt nước biển và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận tín dụng ưu đãi”, anh Ngọc bộc bạch.
Nuôi biển công nghệ cao kết hợp du lịch sinh thái
PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam cho rằng, nuôi biển hiện đại không chỉ là nuôi hải sản mà phải gắn với bảo vệ môi trường và phát triển cộng đồng. Ông nhấn mạnh nguyên tắc “nuôi nước trước khi nuôi cá”, tức phải bảo đảm chất lượng hệ sinh thái biển trước khi mở rộng quy mô sản xuất. Nếu môi trường nước bị suy thoái, toàn bộ chuỗi nuôi biển sẽ khó tồn tại lâu dài.
Theo ông Dũng, Quảng Ninh hiện là địa phương tiên phong của cả nước trong kết hợp nuôi biển công nghệ cao với du lịch trải nghiệm. Đây là mô hình vừa giúp tạo sinh kế mới cho ngư dân, vừa giảm áp lực khai thác nguồn lợi tự nhiên. Các hoạt động tham quan lồng nuôi, trải nghiệm nghề biển, thưởng thức hải sản tại chỗ hay tìm hiểu hệ sinh thái biển đang dần trở thành sản phẩm du lịch mới tại nhiều địa phương ven biển của tỉnh.
Một trong những định hướng quan trọng được nhắc tới tại hội thảo là xây dựng mô hình nuôi biển sinh thái gắn với cộng đồng. Theo đó, ngư dân không chỉ tham gia sản xuất mà còn trực tiếp làm du lịch, giới thiệu văn hóa làng chài và bảo vệ môi trường biển. Điều này giúp hình thành chuỗi giá trị mới, trong đó sản xuất thủy sản không còn tách rời du lịch và bảo tồn.
Liên quan tới chiến lược dài hạn, việc thành lập Khu bảo tồn biển Cô Tô - Đảo Trần với diện tích hơn 18.414ha được đánh giá có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là khu bảo tồn nhằm phục hồi hệ sinh thái biển mà còn góp phần khẳng định chủ quyền quốc gia tại vùng biển Đông Bắc.
Theo các chuyên gia, điểm mới của mô hình bảo tồn hiện nay là đặt cộng đồng ngư dân vào vị trí trung tâm thay vì chỉ áp dụng các biện pháp cấm đoán. Người dân được tham gia quản lý khu vực sinh thái, hưởng lợi từ du lịch và các hoạt động dịch vụ liên quan đến bảo tồn. Khi có sinh kế ổn định từ nuôi biển, du lịch và dịch vụ sinh thái, áp lực khai thác tận diệt nguồn lợi tự nhiên sẽ giảm đáng kể.
Ông Ngô Tất Thắng, Chủ tịch Liên minh HTX Quảng Ninh cho biết, hiện toàn tỉnh có hơn 400 HTX hoạt động trong lĩnh vực thủy sản và nuôi biển. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất quy mô lớn thay thế mô hình sản xuất manh mún trước đây. Theo ông Thắng, Liên minh HTX tỉnh đang nghiên cứu xây dựng đề án “Làng HTX nuôi biển hiện đại kiểu mẫu”, hướng tới hình thành trung tâm nuôi biển công nghệ cao kết hợp du lịch sinh thái biển.
Tại nhiều mô hình du lịch cộng đồng trên đảo, du khách hiện không chỉ nghỉ dưỡng mà còn trực tiếp tham gia các hoạt động gắn với đời sống ngư dân như câu cá, tham quan lồng bè, trải nghiệm chế biến hải sản và tìm hiểu văn hóa biển đảo. Điều này đang tạo thêm giá trị gia tăng cho ngành thủy sản, đồng thời giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường biển.
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, tương lai của kinh tế biển không nằm ở việc khai thác tối đa tài nguyên mà ở khả năng nuôi dưỡng, tái tạo và khai thác bền vững hệ sinh thái đại dương. Từ những lồng nuôi HDPE ngoài khơi đến các mô hình HTX du lịch cộng đồng, Quảng Ninh đang cho thấy nỗ lực chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy khai thác sang tư duy phát triển xanh.
Phát triển kinh tế biển còn nhiều thách thức bởi biến đổi khí hậu, thiên tai, ô nhiễm môi trường và áp lực cạnh tranh thị trường vẫn hiện hữu. Tuy nhiên, sự chuyển động đồng bộ từ chính quyền, doanh nghiệp, HTX và cộng đồng ngư dân đang mở ra kỳ vọng về mô hình kinh tế biển mới, nơi con người không chỉ sống nhờ biển mà còn biết gìn giữ biển như tài sản lâu dài cho các thế hệ tương lai.